Mademoiselle Pearl [Guy de Maupassant]

pearl

Cô Pearl 

Thật không biết tôi nghĩ gì mà lại chọn Cô Pearl làm hoàng hậu đêm hôm đó!

Mỗi năm tôi đều cùng với ông bạn già Chantal tổ chức buổi tiệc Đêm Thứ 12. Cha tôi là người bạn thân nhất của ông và cha từng dắt tôi dự tiệc hồi tôi còn bé. Tôi lại kế tục truyền thống đó, lẽ dĩ nhiên tôi sẽ cứ phải tiếp tục nó miễn là tôi còn sống và vẫn còn một người họ Chantal trên thế giới này.

Gia đình Chantal sống rất lập dị; họ sống ở Paris mà cứ như ở Grasse, Yvetot hay Pont-à-Mousson.

Họ sở hữu một ngôi nhà với mảnh vườn nhỏ gần tháp canh. Cuộc sống của họ ở đó thật không khác gì cuộc sống thôn dã. Họ chẳng biết tí gì về Paris, một Paris thật sự cả; họ chẳng có tính nghi kỵ; họ rất khác lạ, rất khác! Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ có đánh xe vào thành phố. Gia đình họ gọi đó là “Bà Chantal đi mua lương thực dự trữ”. Còn đây là cách họ đi mua:

Cô Pearl-người giữ chìa khóa tủ nhà bếp (vì tủ quần áo do bà chủ quản lý) sẽ cảnh báo rằng lượng đường còn rất ít, số mứt đang cạn dần và cà phê cũng chẳng còn lại bao nhiêu. Như vậy, Bà Chantal đã được thông báo về việc lương thực sắp cạn nên bà sẽ xét duyệt hết thảy và viết ghi chú vào một tập giấy.

Tiếp theo, bà sẽ ghi ra hàng đống con số, làm những phép toán dài dằng dặc và thảo luận thật lâu với Cô Pearl. Cuối cùng họ đồng ý với nhau, quyết định mỗi thứ (đường, gạo, mận khô, cà phê, mứt, đậu hộp, đậu hạt, tôm hùm, muối hoặc cá hun khói,vv..vv )sẽ được mua với số lượng như thế nào để dự trữ trong ba tháng. Sau đó là phần định ngày đi mua sắm, rồi họ sẽ đi bằng chiếc xe ngựa có thanh chắn trên nóc và đến một cửa hàng tạp hóa lớn nằm phía bên kia sông thuộc vùng đất mới của thành phố.

Bà Chantal và Cô Pearl âm thầm đi cùng nhau, và chỉ trở về nhà vào giờ ăn tối trong tình trạng mệt lử -dù vẫn còn phấn khích- và chóng mặt bởi chiếc xe ngựa đầy nhóc bao bị trên mui như xe tốc hành.

Với gia đình Chantal, cả thành phố Paris nằm bên kia sông Seine chính là vùng đất mới đó, một khu vực với dân cư kì quái và ồn ào, không quan tâm lắm đến danh dự, suốt ngày chỉ chơi bời phóng đãng, chè chén thâu đêm và ném tiền qua cửa sổ. Tuy vậy, thi thoảng, các cô tiểu thư cũng được đưa đến nhà hát Opera-Comique hoặc Théâtre Francais khi có một vở kịch được tờ báo mà Ngài Chantal đọc khen ngợi.

Hiện tại, hai tiểu thư nhà Chantal, cô 19 và cô 17 tuổi, đều là những tiểu thư xinh đẹp, cao dong dỏng, tươi mơn mởn và được nuôi dạy rất kỹ, thực ra là quá kỹ đến mức cứng đơ như những cô búp bê xinh đẹp vậy. Tôi chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện chú ý hay tán tỉnh một trong hai tiểu thư nhà Chantal cả; họ thanh cao quá nên chả ai dám đến bắt chuyện; người ta còn cảm thấy việc cúi chào họ là khiếm nhã nữa kia.

Về phần người cha, ông ấy là một người đẹp trai, có học thức, thẳng thắn, chân thành, nhưng lại thích điềm tĩnh và im lặng hơn cả. Vì thế, ông là người có công rất lớn trong việc biến gia đình mình thành “xác ướp” nhằm tạo nên một cuộc sống lặng lẽ mà ông mong muốn. Ông đọc sách rất nhiều, thích chuyện trò và dễ xúc động. Việc thiếu giao thiệp và mở lòng với mọi người đã khiến con tim đạo đức của ông cực kỳ mềm yếu và nhạy cảm. Chuyện nhỏ nhặt nhất cũng làm ông xúc động, có thể làm ông vui hoặc khiến ông buồn phiền.

Nhà Chantal có rất ít các mối quan hệ trong vùng và chúng đều được sàng lọc kỹ càng. Hai hoặc ba lần mỗi năm, họ đến thăm nhà họ hàng ở khá xa.

Về phần mình, tôi luôn đến ăn tối cùng gia đình họ vào ngày 15 tháng 8 và bữa tiệc Đêm Thứ 12. Với tôi, đó là một trong những bổn phận ngang hàng với việc dự Tiệc Thánh của một tín đồ Công giáo.

Vào ngày 15 tháng 8, một số ít bạn bè được mời đến nhưng vào bữa tiệc Đêm Thứ 12 thì tôi là khách mời duy nhất.

Ừm, năm nay cũng như mọi năm, tôi đến nhà Chantal để ăn bữa tối mừng Lễ Hiển Linh.

Theo truyền thống, tôi hôn Ông Chantal, Bà Chantal và Cô Pearl, rồi cúi thật thấp để chào hai Tiểu Thư Louise và Pauline. Họ hỏi tôi 1001 câu hỏi về chuyện xảy ra trên những đại lộ, chính trị, những vấn đề xảy ra ở xứ Bắc Kỳ, và những đại biểu Quốc Hội của chúng tôi. Bà Chantal, một quý bà mập mạp với những ý kiến tạo cho tôi ấn tượng về các tảng đá vuông vức dùng trong xây dựng, thường lớn tiếng kết thúc cuộc bàn luận chính trị bằng câu:”Tất cả chuyện này cho thấy tương lai chẳng mấy hứa hẹn”. Tại sao tôi luôn tưởng tượng những ý kiến của Bà Chantal ra hình vuông ấy à? Tôi cũng chẳng biết nữa; nhưng tất cả những điều bà nói đều tạo ra hình dạng ấy trong đầu tôi: một hình vuông khổng lồ với bốn góc đều nhau. Có những người mà ý kiến của họ luôn khiến tôi liên tưởng tới một vòng tròn lăn đều. Ngay khi họ bắt đầu môt câu về bất cứ chủ đề nào thì tôi lại thấy vòng tròn đó bắt đầu lăn, tạo nên 10,20, đến 50 ý kiến tròn vành vạnh, cái to cái nhỏ, lăn đều, lăn đều, nối đuôi nhau đến tận cuối đường chân trời. Những người khác lại có ý kiến nhọn hoắt, nhưng thôi, đến đây là đủ rồi.

Chúng tôi ngồi xuống như thường lệ và ăn xong bữa tối, nói những chuyện không nằm ngoài khuôn khổ. Vào giờ ăn tráng miệng, chiếc bánh kem của Đêm Thứ 12 được mang ra. Mỗi năm, Ông Chantal đều là vua. Tôi không biết liệu đấy có phải là kết quả của sự ngẫu nhiên hay  truyền thống gia đình không nữa, nhưng miếng bánh của ông lúc nào cũng có hạt đậu bên trong, và ông sẽ tuyên bố Bà Chantal làm hoàng hậu. Thế nên, tôi cực kỳ kinh ngạc khi thấy thứ gì đó cưng cứng, xém chút nữa làm gãy cả răng tôi khi đang ăn bánh. Tôi nhẹ nhàng lấy thứ đó ra khỏi miệng và thấy một con búp bê sứ bé tí, không lớn hơn hạt đậu là bao. Niềm kinh ngạc khiến tôi hét lớn: “A” Mọi người đều nhìn tôi, Chantal vỗ tay và la lớn: “Đó là Gaston!Chính là Gaston! Hoàng thượng vạn tuế! Hoàng thượng vạn tuế!”

Mọi người đều đồng thanh: “Hoàng thượng vạn tuế!” Như một người bình thường, không hiểu vì lý do gì, tôi đỏ mặt đến tận mang tai trong tình huống ngượng ngùng thế này.Tôi ngồi đó nhìn vào đĩa của mình, cầm cái thứ bằng sứ nhỏ xíu lố bịch này trong tay, gượng cười và không biết làm gì hay nói gì nữa, trong khi đó, Chantal lại gào lên tiếp: “Giờ, cậu phải chọn Hoàng hậu!”

Tôi sững sờ. Trong 1/1000 giây, những suy nghĩ và các giả thiết thoáng hiện trong tâm trí tôi. Mấy người này muốn tôi chọn một trong những cô tiểu thư nhà họ sao? Đây có phải là một cái bẫy để tôi thổ lộ ra tôi thích cô nào hơn? Đây có phải là lời gợi ý trực diện, nhẹ nhàng và lịch sự về một cuộc hôn nhân có thể xảy đến? Cái ý tưởng về chuyện cưới hỏi những cô nương trưởng thành luôn hiện diện trong căn nhà này, dưới mọi hình tướng, dưới mọi lớp vỏ ngụy trang và âm mưu. Nỗi sợ hãi tự mình hại mình choáng lấy tôi, chẳng khác gì chuyện phải khép nép trước hai cô tiểu thư Louise và Pauline tính tình dè dặt, phép tắc đến cực đoan. Việc chọn ra người tôi thích hơn trong số hai cô tiểu thư đó đối với tôi cũng khó khăn như việc chọn lựa giữa hai giọt nước; và rồi nỗi sợ phải lao vào chuyện tình cảm mà, mặc cho tôi có chịu hay không, sẽ nhẹ nhàng dẫn tôi vào mối quan hệ hôn nhân được dựng nên bằng sự thận trọng và thiếu tình cảm, lại vừa trầm lặng như một gia đình hoàng gia tầm thường. Nỗi sợ hãi tất cả những điều này ám ảnh lấy tôi.

Bất chợt, tôi nảy ra một ý: tôi sẽ chọn đại Cô Pearl làm tượng trưng vậy. Lúc đầu, ai cũng ngạc nhiên nhưng lúc sau họ lại đánh giá cao sự nhã nhặn và tính phóng khoáng của tôi, họ ngợi khen tôi không ngớt. Mọi người đều hét lên: “Hoàng hậu vạn tuế! Hoàng hậu vạn tuế!”

Về phần mình, cô hầu già tội nghiệp, cô sửng sốt đến mức hòan tòan không kiểm soát được mình, run rẩy và lắp bắp nói: “Không-không-ôi không! Đừng chọn tôi-làm ơn-tôi van ngài đấy!”

Lần đầu tiên trong đời tôi mới nhìn vào Cô Pearl và tự nhủ không biết cô thực sự là gì nữa.

Tôi đã quen nhìn thấy cô trong ngôi nhà này, giống như người ta nhìn một chiếc ghế dựa bọc vải cũ kỹ đã ngồi từ ngày thơ bé nhưng chẳng màng chú ý đến. Một ngày nọ, không hiểu vì sao, một tia nắng bất chợt chiếu rọi vào nó và ta bỗng nhận ra: “Sao vậy nhỉ, chiếc ghế kia thật kỳ lạ”, rồi mới vỡ lẽ: phần gỗ được đục đẽo bởi một nghệ sĩ thực thụ và phần vải đẹp đẽ biết bao. Tôi chưa bao giờ quan sát Cô Pearl một cách tỉ mỉ cả.

misspearl

Cô là một phần của gia đình Chantal, vậy thôi. Nhưng làm thế nào? Với quyền gì? Cô là một người cao ráo, mảnh mai, luôn cố nép mình vào góc khuất, nhưng cũng là người rất quan trọng. Mọi người đối xử thân thiện với cô ấy, thân hơn một quản gia nhưng chưa đủ với một người có quan hệ huyết thống. Bỗng chốc, tôi chú ý đến vài sự khác biệt nho nhỏ mà trước đây, tôi chưa từng quan sát ra. Bà Chantal gọi cô là: “Pearl”, các tiểu thư gọi: “Cô Pearl”, và ngài Chantal chỉ xưng là “Cô” cùng với thái độ tôn trọng hơn, có lẽ vậy.

Cô có thể bao nhiêu tuổi nhỉ? Bốn mươi chăng? Ừm, bốn mươi. Cô không già nhưng cô tự làm mình già đi. Tôi kinh ngạc với sự thật này. Cô vấn tóc và ăn vận kì khôi, ấy vậy mà cô chẳng kì khôi chút nào cả; cô có nét duyên ngầm tự nhiên, giản dị được giấu kín. Quả vậy, cô thật là một tạo vật kỳ lạ! Sao trước đây tôi chưa bao giờ ngắm cô nhỉ? Cô làm tóc mình theo kiểu quấn lọn nhỏ xấu xí của mấy bà hầu già, trông thật buồn cười, nhưng bên dưới là vầng trán rộng, điềm tĩnh, chia cắt bằng hai vết lằn sâu, hai nếp nhăn của nỗi buồn triền miên, tiếp đó là đôi mắt xanh lơ, to và dịu dàng, vừa e lệ, vừa nhút nhát, vừa nhún nhường, cặp mắt xinh đẹp đó thể hiện nét kinh ngạc ngây thơ của cô gái trẻ, những xúc cảm của tuổi xuân thì và cả nỗi u buồn, nhưng nó chỉ làm cho các vẻ đẹp kia mềm mại hơn chứ không phá hỏng chúng.

Cả gương mặt cô thật tinh tế và mộc mạc, một gương mặt với  những cảm xúc dường như tuôn trào cả ra ngoài mà không bao giờ cạn kiệt hay phai mờ vì những mệt mỏi và vui buồn của cuộc đời.

Thật là một khuôn miệng thanh nhã! Một hàm răng xinh xắn làm sao! Nhưng người ta sẽ cho rằng cô không dám mở miệng cười.

Bất chợt, tôi so sánh cô với Bà Chantal! Không nghi ngờ gì nữa, Cô Pearl đẹp hơn, trăm lần đẹp hơn, thanh nhã hơn, lộng lẫy hơn, kiều diễm hơn. Tôi rất kinh ngạc trước lời bình phẩm của mình. Họ đang rót rượu sâm-panh. Tôi nâng cốc với Hoàng hậu và với một lời khen khéo léo, tôi uống mừng sức khỏe cô. Tôi có thể thấy cô hơi nghiêng người để giấu mặt mình vào tấm khăn ăn. Sau đó, cô nhúng môi vào lớp rượu trong vắt và mọi người hét lớn: “Hoàng hậu uống rồi! Hoàng hậu uống rồi!” Cô gần đỏ mặt tía tai và chết lặng. Ai ai cũng phá lên cười; nhưng tôi thấy được rằng tất cả đều yêu thương cô.

Ngay khi bữa tối kết thúc, ông Chantal nắm lấy tay tôi. Đã đến giờ hút xì-gà, giờ phút riêng tư. Khi chỉ có một mình, ông thường hút thuốc ngoài đường; khi có khách khứa đến ăn tối, ông đưa họ vào phòng chơi bi-da và hút thuốc trong khi chơi. Đêm đó, họ đốt lửa mừng Đêm Thứ 12, còn ông bạn già của tôi cầm lấy cây cơ bi-da, một cây cơ ngon lành và cẩn thận thoa phấn vào đầu gậy rồi ông nói:’Đi trước đi, cậu nhóc!’

Ông biết tôi từ ngày tôi còn bé nên ông vẫn gọi tôi là “nhóc” dù tôi đã hai lăm tuổi.

Tôi bắt đầu chơi và được vài lần đánh trúng hàng loạt hòn bi-da. Có mấy lần tôi đánh trượt nhưng ý nghĩ về Cô Pearl cứ luẩn quẩn trong đầu, tôi bỗng cất tiếng hỏi:”Mà này, Ông Chantal, Cô Pearl có phải là một người bà con của gia đình ông không?”

Vô cùng ngạc nhiên, ông dừng chơi và nhìn tôi: “Gì cơ! Cậu không biết à? Cậu chưa nghe chuyện của Cô Pearl bao giờ hả?”

“Chưa”

“Cha cậu cũng chưa bao giờ kể cậu nghe sao?”

“Chưa luôn”

“À, ừm, ngộ lắm! Rất ngộ ! Sao à, đó chỉ là chuyện yêu đương thường tình thôi !

Ông ngừng lại và tiếp tục nói :’Và cậu có biết là thật kỳ quái khi cậu hỏi tôi điều này vào ngày hôm nay, ngay Đêm Thứ 12 không ?’

‘Tại sao ?’

‘Sao hả ? Này, nghe này. Cách đây 41 năm, vào đúng ngày này, ngày Lễ Hiển Linh, chúng tôi sống tại Royu-le-Tors, trên thành lũy ; nhưng để cậu hiểu rõ tôi sẽ giải thích về căn nhà trước. Rouy nằm trên một ngọn đồi, hay đúng hơn là một gò đất nhìn ra vùng thảo nguyên ngút ngàn. Chúng tôi sở hữu một ngôi nhà với khu vườn treo tuyệt đẹp, được nâng đỡ bằng những bức tường có lỗ châu mai cũ kỹ; thế có nghĩa là ngôi nhà nằm tại thành phố, nhìn ra đường, còn khu vườn lại nhìn ra vùng đồng cỏ. Có một cánh cửa dẫn từ khu vườn đến vùng quê mênh mông ấy, loại cửa nằm dưới chân một cầu thang bí mật ẩn trong bức tường dày mà ta hay đọc được trong tiểu thuyết. Một con đường chạy ngang trước mặt cửa chính, nơi có một cái chuông lớn vì nông dân thường mang lương thực đến bằng đường này để tránh đường vòng.

‘Giờ thì cậu thấy được nơi đó rồi phải không ?Ừm, năm ấy, vào ngày Lễ Hiển Linh, tuyết rơi dày đã được một tuần rồi. Có người nghĩ rằng tận thế sắp đến. Khi chúng tôi đi lên thành lũy để quan sát vùng đồng cỏ, một vùng quê giá lạnh, mênh mang một màu trắng xóa, sáng bóng như lớp vẹc-ni, và lạnh lẽo đến tận tim gan. Có người cho rằng Chúa đã gói thế giới này vào túi len bông để cất vào nhà kho dành cho những thế giới già cỗi. Tôi có thể cam đoan với cậu là cảnh tượng ảm đạm lắm.

‘Lúc đó chúng tôi là một đại gia đình: cha tôi, mẹ tôi, cô chú tôi, hai anh trai và bốn chị em họ nữa ; họ đều là những bé gái xinh xắn và cô út chính là vợ tôi. Trong số đó, giờ chỉ còn mỗi ba người : vợ tôi, tôi và bà chị dâu hiện sống tại Marseilles. Trời đất! Thật là nhanh quá, mới đó mà một gia đình lớn như vậy chỉ còn lại vài người ! Mỗi lần nghĩ đến đây là tôi lại rùng mình ! Hồi đó tôi mới 15 và giờ tôi đã 56.

‘Chúng tôi sắp ăn mừng ngày Lễ Hiển Linh, ai cũng vui vẻ hết, rất vui ! Mọi người đều ngồi trong phòng khách, đợi đến bữa tối và rồi Jacques, ông anh cả của tôi thông báo : ‘Có một con chó tru tréo cả khoảng 10 phút ngoài khu đồng cỏ kìa, con thú tội nghiệp hẳn là bị lạc.’

‘Anh ấy gần như không thể dừng nói khi chiếc chuông ngoài vườn bắt đầu reo vang. Một âm thanh trầm trầm như tiếng chuông nhà thờ khiến người ta nghĩ đến cái chết. Một cơn ớn lạnh chạy xuyên qua mọi người. Cha tôi gọi gia nhân, bảo anh ta ra ngoài xem xét. Chúng tôi đợi chờ trong im lặng, nghĩ đến cảnh tuyết phủ trắng mặt đất. Khi người gia nhân quay về, anh ta tuyên bố rằng chẳng nhìn thấy gì hết. Con chó cứ tru mãi không dứt, và âm thanh luôn phát ra tại cùng một nơi.

‘Chúng tôi ngồi vào bàn ăn tối nhưng tất cả đều thấy không yên, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Mọi thứ đều ổn cho đến lúc món thịt quay được dọn ra, cái chuông lại bắt đầu reo lên, ba lần nối tiếp nhau, ba tiếng nặng nề, dài dằng dặc khiến đầu ngón tay ai cũng rung bần bật và cắt ngang cuộc nói chuyện. Mấy cái nĩa vẫn lơ lửng, chúng tôi ngồi đó nhìn nhau, lắng nghe và run lẩy bẩy vì sợ đó là loại ma quỷ gì đấy.

‘Cuối cùng, mẹ tôi lên tiếng : « Chẳng đời nào thứ đó lại đợi thật lâu trước khi quay lại đâu. Đừng đi một mình, Batipse ; một trong những người đàn ông ở đây sẽ đi cùng anh. »

‘Ông Chú Francois của tôi đứng phắt dậy. Ông là người theo kiểu Hercules, cực kỳ kiêu hãnh về sức mạnh của mình, chẳng sợ bất cứ thứ gì trên đời này cả. Cha tôi nói với ông : « Mang súng theo. Ai mà biết được nó là gì kia chứ. »

‘Nhưng chú tôi chỉ cầm lấy một cây roi và đi ra cùng với người gia nhân.

‘Còn lại chúng tôi ở đó, run rẩy sợ hãi, không ăn gì mà cũng chẳng nói lấy một lời. Cha cố trấn an chúng tôi : « Cứ đợi mà xem, đó chỉ là kẻ ăn xin hay gã lang thang nào đó lạc trong bão tuyết thôi. Sau khi rung chuông một lần và không thấy cửa mở, hắn đã cố gắng tìm đường nhưng không thể, nên đã quay lại đây mà thôi »

‘Ông chú tôi dường như đã đi được cả tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông cũng quay lại, giận dữ và chửi thề : « Chẳng có cái quái gì cả ;một thằng bịp bợm nào đó thôi ! Chẳng có gì ngoài con chó chết dẫm tru tréo cách đây hàng trăm dặm. Nếu ta mà mang theo súng, ta đã bắn nó câm mõm rồi. »

‘Chúng tôi lại ngồi vào bàn ăn, nhưng ai cũng lo lắng cả ; chúng tôi có cảm giác mọi chuyện vẫn chưa chấm dứt, sắp có gì đó xảy ra và cái chuông sẽ sớm reo lên lần nữa.

‘Tiếng chuông rung lên khi chiếc bánh của Đêm Thứ 12 đang được cắt. Cánh đàn ông nhảy dựng cả lên. Ông chú Francois nãy giờ nốc rượu sâm panh, giận dữ chửi thề rằng ông sẽ giết nó, dù nó là gì đi nữa, khiến cho mẹ và cô tôi phải ngăn không cho ông đi. Cha tôi, mặc dù rất bình tĩnh và hơi thiếu tự lực (ông đi khập khiễng kể từ ngày bị ngã ngựa và gãy chân) đáp trả với tuyên bố rằng ông muốn tìm hiểu xem thứ đó là gì và ông sẽ đi. Hai anh trai tôi, một người 18 và một người 20, chạy đi lấy súng và khi không ai chú ý đến mình, tôi liền chộp lấy khẩu súng trường nhỏ được dùng trong vườn và sẵn sàng gia nhập đoàn thám hiểm.

‘Chúng tôi bắt đầu ngay lập tức. Cha và chú tôi dẫn đầu cùng với Batipse, người cầm chiếc đèn lồng. Hai anh Jaques và Paul của tôi theo sau, còn tôi nối gót họ, bất chấp những lời cầu nguyện của mẹ-bà đang đứng trước cửa nhà cùng với chị gái và các cô em họ.

‘Cách đây một giờ, trời lại đổ tuyết làm các cành cây trĩu nặng. Những tán thông cong oằn dưới lớp tuyết trắng nặng nề, trông giống như các kim tự tháp trắng muốt hay cây kem nón khổng lồ, và qua màn tuyết xám xịt với những bông tuyết be bé rơi lả tả, ta có thể nhìn thấy các bụi rậm sang sáng nổi lên lờ mờ trong bóng tối. Tuyết rơi dày đặc đến mức trong vòng ba mét, chúng tôi không thể nhìn thấy gì trước mặt. Nhưng chiếc đèn lồng chiếu sáng xung quanh chúng tôi. Khi chúng tôi bắt đầu đi xuống chiếc cầu thang xoắn nằm trong tường, tôi thực sự bắt đầu cảm thấy sợ. Tôi có cảm giác ai đó đang đi phía sau tôi, sắp chộp lấy vai tôi và bắt tôi đi mất, tôi cực kỳ muốn trở về ; nhưng nếu về thì tôi phải một mình băng qua khu vườn nên tôi không dám. Tôi nghe thấy ai đó đang mở cánh cửa dẫn đến khu đồng cỏ ; chú tôi lại bắt đầu chửi thề và hét lên : « Chúa ơi !Nó lại biến mất nữa ! Nếu ta mà thấy bóng nó thôi, ta sẽ không để xổng nó đâu, đồ đê tiện ! »

‘Thật là nản lòng khi nhìn thấy vùng đồng cỏ bao la này hoặc nói đúng hơn là cảm thấy nó trước mặt chúng tôi vì chúng tôi không thể thấy nó ; chúng tôi chỉ có thể thấy một màn tuyết dày vô tận ở phía trên, phía dưới, trước mặt, bên phải, bên trái, khắp bốn bề. Chú tôi lại nói tiếp : « Nghe kìa ! Con chó đó lại tru lên nữa ; ta sẽ cho nó nếm tài thiện xạ của ta. Dù sao cũng có món chiến lợi phẩm mang về. »

‘Nhưng cha tôi, một người nhân hậu, đã tiếp lời rằng : « Tốt hơn là nên đi tiếp và tìm ra con vật tội nghiệp. Anh bạn khốn khổ đó đang kêu cứu đấy, nó la hét như một người đang gặp nạn. Ta đến chỗ nó xem. »

‘Thế là chúng tôi bắt đầu đi xuyên qua tấm màn mù mịt này, tấm màn tuyết nặng trịch và rơi không thôi. Tuyết lấp đầy cả không gian, trôi lềnh bềnh, rơi xõa xuống, làm cóng cả da với cảm giác bỏng rát như một cơn đau nhói thoáng qua mỗi khi một bông tuyết tan chảy. Tuyết mềm và lạnh ngập đến đầu gối nên chúng tôi phải nhấc chân lên rất cao mới đi được. Khi chúng tôi bước lên phía trước, tiếng của con chó càng rõ và mạnh hơn. Chú tôi la lên : « Nó đây rồi ! » Chúng tôi dừng bước để quan sát nó, giống như khi người ta gặp phải kẻ thù vào đêm tối.

‘Tôi chẳng thấy gì hết, thế nên tôi chạy đến chỗ những người khác, và tôi thấy nó. Trông nó thật kinh khủng và kỳ lạ : nó là một con chó chăn cừu to lớn với bộ lông đen dài cùng cái đầu của một con sói, và nó đang đứng trên tuyết, trong vùng sáng lập lòe tỏa ra từ chiếc đèn lồng. Nó không di chuyển, nó đang im lặng quan sát chúng tôi.

‘Chú tôi nói : « Thật lạ lùng, nó chẳng tiến mà cũng chẳng lùi. Tôi thấy thèm bắn cho nó một phát quá. »

‘Cha tôi trả lời, giọng mạnh mẽ : « Không, chúng ta phải bắt nó »

‘Sau đó, anh trai Jacques của tôi quan sát thấy : Nhưng nó không ở một mình. Có thứ gì đằng sau nó kìa. »

‘Quả thật có thứ gì đó đằng sau nó, một thứ màu xam xám khó phân biệt. Chúng tôi thận trọng bước đến nữa. Khi thấy chúng tôi tiến lại gần, nó ngồi xuống. Trông nó không hề nguy hiểm. Thay vào đấy, nó có vẻ hài lòng khi khiến ai đó chú ý đến mình.

‘Cha tôi đi thẳng đến và vuốt ve nó. Con chó liếm lấy tay ông. Chúng tôi thấy nó được cột vào bánh của một chiếc xe nhỏ, loại xe đồ chơi được gói kỹ càng trong ba, bốn lớp chăn len. Chúng tôi cẩn thận mở đống vải ra, và khi Baptiste cầm chiếc đèn lồng tiến đến phía trước chiếc xe nhỏ, thứ trông giống một chiếc cũi, chúng tôi nhìn thấy một em bé đang ngủ ngon lành.

‘Tất cả chúng tôi đều kinh ngạc không nói nên lời. Cha tôi là người đầu tiên trấn tĩnh lại, và vì ông là người có trái tim nhân hậu với đầu óc khoáng đạt, ông vươn tay chạm vào phần mui của chiếc xe và nói : « Đứa nhỏ tội nghiệp, con hãy về sống với chúng ta nhé ! » Và ông ra lệnh cho anh Jacques mang chiếc xe cùng đứa trẻ bị bỏ rơi đi phía trước chúng tôi. Cha tôi nói to những suy nghĩ của mình : « Vậy là một đứa bé nào đó có người mẹ tội nghiệp đã rung chuông cửa nhà ta vào đêm Lễ Hiển Linh tưởng nhớ Đứa Con của Chúa. »

‘Ông lại ngừng nói và lấy hết sức gọi to, xuyên qua đêm tối : « Chúng ta đã tìm thấy nó ! » Đặt tay lên vai em trai mình, ông thì thầm : « Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cậu bắn con chó hả Francois ? »

‘Chú tôi không trả lời, nhưng trong bóng tối ông làm dấu thánh giá trên ngực mình vì dù cho tính khí ông mạnh bạo nhưng ông là người rất ngoan đạo.

‘Còn con chó đã được cởi dây nên đi theo chúng tôi.

‘A ! Nhưng cậu phải thấy chúng tôi thế nào khi về đến nhà kìa ! Lúc đầu, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn khi phải mang chiếc xe lên cầu thang xoắn, nhưng rồi chúng tôi cũng làm được, thậm chí còn lăn nó vào tiền sảnh nữa kìa.

‘Mẹ tôi vui lắm ! Rất vui và kinh ngạc ! Còn bốn cô em họ (cô út mới 6 tuổi) thì trông như 4 chú gà chạy loanh quanh cái tổ ấy. Cuối cùng, chúng tôi mang đứa bé ra khỏi chiếc xe. Nó vẫn còn say ngủ. Đó là một bé gái khoảng 6 tuần tuổi. Trong mớ quần áo của nó, chúng tôi tìm thấy 10 ngàn đồng vàng franc ; đúng thế đó cậu nhóc, 10 ngàn franc !, số tiền ấy cha tôi giữ làm của hồi môn cho nó. Như vậy, đứa bé không phải là con của dân nghèo, mà có thể là con của một nhà quý tộc với một cô gái nhà tiểu tư sản trong thành phố, chúng tôi đưa ra hàng ngàn giả thiết nhưng chẳng tìm ra bất cứ thứ gì, một manh mối nhỏ nhất cũng không. Không ai nhận ra con chó cả. Nó là một kẻ lạ mặt tại vùng này. Dù sao đi nữa, người đã rung chuông ba lần ấy hẳn phải biết rõ cha mẹ tôi, vì thế người đó mới chọn gia đình tôi.

‘Đó là cách Cô Pearl bước vào gia đình Chantal khi vừa mới 6 tuần tuổi.

‘Không phải sau này mọi người mới gọi cô ấy là Cô Pearl. Ban đầu, cô ấy có tên thánh là Marie Simonne Claire, Clair là họ của cô.

‘Tôi có thể cam đoan với cậu rằng khi chúng tôi trở về phòng ăn, không khí rất vui vẻ. Đứa bé lúc đó đã tỉnh giấc, nhìn những người xung quanh nó và những ngọn đèn với cặp mắt dò hỏi màu xanh nhạt.

‘Chúng tôi lại ngồi xuống ăn bữa tối và chiếc bánh được cắt ra. Khi đó, tôi được làm vua và tôi chọn Cô Pearl làm hoàng hậu, như cậu đã làm hôm nay. Ngày đó, cô ấy chẳng thể hiểu được cái vinh dự đấy.

‘Ừm, đứa bé được gia đình tôi nhận nuôi và dạy dỗ. Năm tháng trôi qua, cô bé giờ đã trưởng thành. Cô bé hiền lành và đáng yêu đến nỗi mọi người sẽ làm hư cô nếu mẹ tôi không ngăn cản.

‘Mẹ tôi là người phụ nữ rất kỷ cương và xem trọng những khác biệt giai cấp. Bà đồng ý đối xử với bé Claire như cách bà đối xử với các cậu con trai của mình, tuy vậy, bà muốn khoảng cách giữa chúng tôi phải được phân biệt rõ ràng, địa vị giữa chúng tôi phải được giữ đâu ra đó. Thế nên, ngay khi hiểu được điều đó, cô bé cũng biết được câu chuyện của mình và dần dần đầu óc non nớt ấy khám phá ra rằng đối với gia đình Chantal, cô chỉ là đứa con gái nuôi, được thu nhận vào gia đình nhưng vẫn là người dưng. Claire hiểu ra chuyện với một trí thông minh kỳ lạ và một bản năng đáng kinh ngạc ; cô ấy hiểu mình nên đứng ở vị trí nào và giữ vững nó một cách khéo léo, duyên dáng và dịu dàng đến độ cha tôi nhiều lần đã khóc. Bản thân mẹ tôi cũng thường xúc động bởi lòng biết ơn sâu sắc và sự tận tụy của cô bé thanh nhã, đáng yêu nên bà bắt đầu gọi cô là : “Con gái của ta.” Khi cô bé làm điều tốt và tử tế, có đôi lần bà kéo cặp kính lên trán-một hành động biểu lộ tình cảm của mình với cô-rồi bà sẽ lặp đi lặp lại rằng : “Đứa bé này là một viên trân châu, một viên trân châu hoàn hảo ! » Cái tên này đã gắn bó với Clair bé nhỏ, người đã trở thành Cô Pearl và vẫn còn là Cô Pearl.’

Henry Robert Morland A Laundry Maid Ironing

Ông Chantal ngừng nói. Ông đang ngồi ở mép bàn bi-da, chân ông đu đưa, tay trái đang chơi với quả banh, trong khi tay phải vò nát miếng giẻ lau bảng. Mặt hơi ửng đỏ, giọng khàn đục, giờ đây ông đang nói chuyện với bản thân mình, lạc trong miền ký ức, nhẹ nhàng trôi vào những khung cảnh và sự kiện của một thời quá vãng. Chúng bừng tỉnh trong tâm trí ông như khi ta bước vào những mảnh vườn xưa của gia đình, nơi ta đã lớn khôn, nơi mỗi gốc cây, mỗi lối đi, mỗi bờ giậu đều gợi nhớ đến một sự việc nào đó.

Tôi đứng đối diện ông, lưng dựa vào tường, tay đặt trên cây cơ.

Sau khi nghỉ một chút, ông nói tiếp : « Ối chà ! Năm mười tám tuổi cô ấy đẹp lắm, duyên dáng và toàn mỹ. A ! Cô ấy thật đáng yêu, thật tốt bụng và trung thực, thật quyến rũ ! Đôi mắt cô ấy, đôi mắt màu xanh dương trong vắt, trong trẻo nhất mà tôi từng được thấy !’

Ông lại im lặng và tôi hỏi :’Tại sao cô ấy không lấy chồng ?’

Ông trả lời, không phải với tôi mà với từ ‘lấy chồng’ đập vào tai ông ấy : « Sao ? Tại sao ư ? Cô ấy đã không bao giờ, không bao giờ làm thế cả ! Cô ấy có của hồi môn 30 ngàn franc và nhận được vài lời cầu hôn nhưng cô ấy không bao giờ lấy chồng ! Lúc đó, trông cô ấy có vẻ buồn. Đó là lúc tôi cưới cô em họ mình, Charlotte bé nhỏ, vợ tôi, người tôi đã đính hôn được sáu năm.’

Tôi nhìn Ông Chantal, một cái nhìn dường như thấu tận cõi lòng ông và bất chợt tôi thấy được một trong những bi kịch ẩn chứa trong trái tim chân thành, thẳng thắn, vô tội đó, một trong những tấn bi kịch thầm kín không ai biết, đến cả những người thầm lặng và cam phận cũng chẳng hay. Trực giác nhanh nhạy bất chợt thúc giục tôi kêu lên : « Lẽ ra ông nên cưới cô ấy, Ông Chantal ạ ! »

Ông nhìn tôi rồi nói :’Tôi à ? Cưới ai’

‘Cô Pearl.’

‘Tại sao ?’

‘Vì ông yêu cô ấy hơn em họ mình.’

Ông ấy nhìn tôi chằm chằm với cặp mắt tròn xoe, bối rối,lạ lùng và lắp bắp :’Tôi yêu cô ấy-tôi ấy à ?Làm thế nào ? Ai nói với cậu?’

‘Sao ư, ai cũng có thể thấy rõ mà-và chính vì cô ấy mà ông đã trì hoãn rất lâu đám cưới với em họ mình, người đã đợi ông sáu năm ròng.’

Ông làm rơi trái banh đang giữ trong bàn tay trái và hai tay chộp lấy miếng giẻ lau bảng, ông vùi mặt mình vào đó và khóc nức nở-một tiếng khóc thương tâm nhưng có phần buồn cười. Ông ho sù sụ, khạc nhổ và hỉ mũi vào miếng giẻ lau, quẹt nước mắt và hắt xì hơi ; dòng lệ lại bắt đầu chảy xuống các nếp nhăn trên gương mặt ông và trong cổ họng ông phát ra tiếng ùng ục kỳ lạ. Tôi thấy bối rối, ngượng ngùng quá ; tôi muốn chạy đi để khỏi cần nghĩ ra điều gì để nói, để làm hay gắng làm nữa.

Thình lình, giọng nói của Bà Chantal vọng lên từ cầu thang. « Các ông hút xì gà xong chưa đấy ? »

Tôi mở cửa và nói lớn : « Vâng, thưa bà, chúng tôi xuống ngay đây »

Rồi tôi chạy bay đến chồng bà, nắm lấy vai ông ấy và hét lên : ‘Ông Chantal, Chantal bạn tôi ơi, nghe tôi nói này ; vợ ông đang gọi đấy, bình tĩnh lại nào, chúng ta phải đi xuống lầu.’

Ông lắp bắp :’Rồi, rồi, anh đến đây, khổ thân bà ấy! Anh đến đây, nói với bà ấy là tôi đang đến đi’

Ông bắt đầu lau mặt rất cẩn thận bằng miếng giẻ cả hai, ba năm nay được dùng để lau phấn trên bảng ; thế là mặt ông nửa trắng nửa đỏ : trán, mũi, má và cằm phủ đầy phấn, mắt sưng phồng và vẫn còn đẫm nước.

Tôi nắm lấy tay ông, kéo ông vào phòng ngủ và nói nhỏ :’Ông Chantal, xin ông thứ lỗi, xin ông thứ lỗi cho vì đã gây ra cho ông nỗi đau buồn này, nhưng tôi không hề biết, ông hiểu mà.’

Ông nắm chặt tay tôi và nói : ‘Ừ, ừ, có những lúc cũng khó xử .’

Sau đó, ông nhúng mặt mình vào thau nước. Khi ông nhấc mặt mình ra khỏi đó, tôi vẫn chưa thấy ông chỉnh tề lắm ; nhưng tôi nghĩ ra một mẹo nhỏ. Khi ông đang lo lắng nhìn mình trong gương, tôi nói với ông :’Tất cả những gì ông bạn phải làm là nói rằng bụi bay vào mắt và ông có thể khóc tùy thích trước mặt mọi người.’

Ông đi xuống lầu và lau nước mắt bằng chiếc khăn tay của mình. Ai cũng lo lắng và mong tìm ra hạt bụi không hề có thật đó ; thế là mọi người đưa trường hợp của ông vào những ca cần đến bác sĩ.

Tôi đi qua Cô Pearl và ngắm nhìn cô, lòng cô giằng xé bởi cơn tò mò mãnh liệt mà giờ đây đang chuyển sang thái độ chịu đựng đầy lạc quan. Quả thực, cô rất đẹp với đôi mắt dịu dàng, điềm tĩnh và to đến nỗi trông như thể cô chẳng bao giờ nhắm lại giống người khác. Chiếc đầm dài của cô nhìn hơi buồn cười, đó là một chiếc áo của một bà hầu già thực thụ, trông chẳng hợp với cô nhưng không thể làm cô kém duyên dáng.

Dường như tôi đang nhìn thấu tận đáy lòng cô, giống như khi tôi nhìn vào Ông Chantal vậy. Tôi nhìn thấy từ đầu đến cuối cuộc đời lầm lũi ấy, một cuộc đời quá giản dị và giàu hy sinh. Tôi cực kỳ mong muốn chất vấn cô, để tìm hiểu xem liệu cô có yêu ông ấy không ; liệu cô có đau nỗi đau như ông, nỗi đau khổ dài dằng dặc, thầm kín và buốt nhói không ai thấy, không ai hay biết hay đoán được, nhưng khi về đêm, chỉ có một mình trong căn phòng tối bưng, nỗi đau đó lại vỡ òa. Tôi vẫn đang ngắm nhìn cô và thấy được nhịp tim cô đang đập dưới lớp áo chẽn. Tôi tự hỏi liệu gương mặt đáng yêu, bộc trực này đã từng khóc thầm trên gối, có từng nức nở, cơ thể có từng run rẩy khi nỗi thống khổ ập đến chưa.

Tôi hạ giọng nói với cô, giống như khi một đứa trẻ làm vỡ món đồ chơi để xem có gì bên trong : ‘Nếu cô nhìn thấy Ông Chantal khóc mới hồi nãy, cô sẽ xúc động đấy.’

Cô hỏi tôi :’Gì cơ ?Ông ấy khóc sao ?’

‘À, đúng vậy, ông ấy thực sự đã khóc đấy.’

‘Tại sao vậy ?’

Cô có vẻ xúc động vô cùng. Tôi trả lời :’Vì cô đấy.’

‘Vì tôi ư ?’

‘Đúng thế. Ông ấy đang kể tôi nghe ngày xưa, ông ấy yêu cô đến nhường nào ; và ông đã vô cùng đau đớn khi phải lấy em họ mình, thay vì cô.’

Gương mặt tái nhợt của cô dường như dài ra một chút ; đôi mắt bình tĩnh lúc nào cũng mở to chợt khép lại, nhanh đến nỗi chúng dường như khép chặt mãi mãi. Cô trượt từ ghế xuống sàn nhà, ngã nhẹ nhàng và chậm rãi như một tấm lụa rơi.

Tôi hét lên : ‘Giúp với ! Giúp với !Cô Pearl không được khỏe !’

Bà Chantal và các tiểu thư vội vã chạy đến và trong khi họ tìm kiếm khăn lau, nước và giấm, tôi chộp lấy mũ, chạy ra khỏi ngôi nhà đó.

Tôi sải những bước thật nhanh, lòng nặng trĩu, tâm trí tôi đầy ắp nỗi thương xót và ân hận. Nhưng cùng lúc, tôi cũng thấy vui nữa ; tôi cảm thấy mình đã làm một việc đáng khen ngợi và cần thiết. Tôi tự vấn lòng mình hết lần này đến lần khác :’Mình làm đúng hay sai ?’ Họ chôn chặt tình cảm của mình trong tim như người ta mang một viên đạn trong vết thương khép miệng vậy. Giờ chẳng phải họ vui sướng hơn sao ? Đã quá trễ để câu chuyện đau thương của họ được trở lại từ đầu nhưng vẫn còn thời gian để họ nhớ về nó với niềm trân trọng.

Và biết đâu năm sau, vào một đêm xuân nào đó, khi ánh trăng lọt qua nhành cây, rơi xuống bãi cỏ dưới chân họ, hai người sẽ siết chặt tay nhau để cùng nhớ về nỗi đau kìm nén và mãnh liệt này ; và cũng biết đâu sự gần gũi ngắn ngủi đó có thể tiêm vào mạch máu họ một chút nỗi xúc động họ chưa bao giờ biết đến và trong chốc lát, sẽ mang lại cho hai tâm hồn héo khô này cảm giác say mê và thoáng qua của men say tình ái, của nỗi cuồng dại đã trao cho họ hạnh phúc nhiều hơn tất thảy hạnh phúc của đời người gộp lại !

 

Dịch: calamittie

Advertisements

One thought on “Mademoiselle Pearl [Guy de Maupassant]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s